Loading...
Trang chủ | Tin tức - sự kiện | Quản lý học tập | Văn bản| | Liên hệ| Tin từ các báo
Giới Thiệu
Tin tức - Hoạt động
Lịch công tác
Trang vàng 
Giải trí
Liên kết hữu ích
Thông tin cần biết
Tài liệu tham khảo
Tìm kiếm
    Từ khóa
Thống kê
   Số người online: 3
   Số lượt truy cập: 156530
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
   Hot online: 0905609111

   Ban quản trị:

Danh ngôn - Tục ngữ
   -“Đừng xấu hổ khi không biết, chỉ xấu hổ khi không học.”
   -“Thà phải tìm hiểu sự thật suốt đêm còn hơn phải nghi ngờ nó suốt đời.” F. Engels (1820–1895)
   -“Học tập là hạt giống của kiến thức, kiến thức là hạt giống của hạnh phúc.” (Ngạn ngữ Gruzia)
LIÊN KẾT NHANH


Chuyên đề giáo dục
 
HÌNH THÀNH GIÁO DỤC CÁCH MẠNG

Cách mạng tháng Tám thành công khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc.  Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đứng đầu là Hồ Chủ Tịch đã kịp thời kêu gọi "Tổ chức bình dân học vụ, tích cực bài trừ nạn mù chữ, mở Đại học và Trung học, cải cách học theo tinh t hần mới, bài trừ cách dạy học nhồi sọ" (1). Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ cách mạng đầu tiên đã nhận thức đúng vai trò, vị trí của giáo dục đối với sự phát triển của đất nước, vì vậy ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, ngày 03 tháng 9 năm 1945 Người đã đưa ra đề nghị: "Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân Pháp dùng để cai trị chúng ta". Hơn 95% đồng bào chúng ta mù chữ. Nhưng chỉ cần 3 tháng là đủ để học đọc, học viết tiếng ta theo vần quốc ngữ. "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ" (2). Đề nghị đó của Hồ Chủ Tịch trở thành Quyết định của Hội đồng Chính phủ và 3 Sắc lệnh quan trọng được ban hành. Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha Bình dân học vụ (8/9/1945); sắc lệnh số 19/SL hạn định trong 6 tháng các làng xã, thôn bản phải tổ chức học chữ Quốc ngữ, sắc lệnh 20/SL:
-------------------------------------------------------------------------------
(1) Kháng chiến kiến quốc, Chỉ thị của BCHTW Đảng NXB Sự thật Hà Nội trang 19,20
(2) Hồ Chủ tịch bàn về Giáo dục. NXB Giáo dục

Xây dựng nền giáo dục cách mạng: Vì dân, do dân và được xây dựng trên nguyên tắc khoa học, dân tộc, đại chúng được tổ chức khắp toàn quốc "Trong khi chờ đợi lập được nền Tiểu học cưỡng bức, việc học chữ Quốc ngữ  từ nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người. Hạn trong 1 năm tất cả mọi người Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ ". Những chủ trương táo bạo, quyết liệt, đúng đắn và sáng tạo trong những ngày đầu của Chính phủ đã nhanh chóng được thực hiện rộng khắp trong cả nước.
 Quảng Trị, giành được chính quyền từ ngày 23 tháng 8 năm 1945. Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh ra đời do ông Trần Hữu Dực làm Chủ tịch, ông Đặng Thí và ông Ngô Hữu Khiết làm Phó Chủ tịch đã kịp thời cử ông Vương Kiêm Toàn, Nguyễn Lê Thiệu (Hội viên hội truyền bá quốc ngữ) phụ trách công tác giáo dục, phụ trách  "Chiến dịch chống nạn mù chữ" và triển khai 3 Sắc lệnh của Chính phủ.
 Để  thực thi Sắc lệnh của Chính phủ, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh quyết định giữ nguyên tổ chức thanh tra tiểu học vụ do ông Tôn Thất Dương Thanh làm Trưởng ty Thanh tra tiểu học vụ.  Một thực tế là khi ta cướp chính quyền, trên 95% nhân dân mù chữ. Dân tộc Pa Kô, Vân Kiều, số người biết chữ đếm trên đầu ngón tay. Cán bộ kháng chiến phải huy động tìm nguồn ở các thôn xã, làng bản, tập hợp hết mọi người biết chữ dể dạy cho người chưa biết chữ.
 Phong trào học chữ Quốc ngữ được nhân dân hưởng ứng sôi nổi, chữ được viết khắp nơi ở đình làng, ngõ chợ, bến sông, chữ viết trên vách nhà, công cụ lao động. Các lớp học bình dân học vụ được tổ chức linh hoạt theo cụm gia đình ở các thôn bản. Trình độ người dạy cao hơn người học không được bao nhiêu nhưng với nhiệt tình cách mạng vừa dạy vừa học, học lớp trên xuống dạy lớp dưới theo tinh thần người biết một chữ dạy người chưa biết chữ. Đội tuyên truyền vận động của Ty tuyên truyền Quảng Trị có sáng kiến đặt ra những câu hò, vè, những câu văn vần về chữ cái cho người học dễ nhớ  như:
 O tròn như quả trứng gà
 Ô thời đội nón, Ơ là có râu...
 Những biện phápừaa có tính chất tuyên truyền cổ động, vừa có tình chất bắt buộc học chữ Quốc ngữ được thực hiện. Nhiều "Chiến sĩ diệt dốt" (1) có sáng kiến lập cổng chào qua làng, làm cổng chợ, dựng cổng bến đò viết sẵn chữ liên quan bắt buộc mọi người phải đọc được mới cho qua. Phong trào học chữ trở thành phong trào cách mạng, tạo ra một không khí rộn ràng, tươi sáng làm át đi những khó khăn, thiếu thốn trong đời sống của người dân, tạo ra niền tin vào chế độ mới, giữ vững chính quyền cách mạng, tổ chức diệt dốt thành công. Chưa đầy 1 năm, Quảng Trị đã có trên một vạn người đọc thông viết thạo, làm được 4 phép tính cộng , trừ, nhân , chia. Lực lượng trẻ ở các lớp "ấu trỉ viên" (2). Sáng kiến của ông Trương Quang Phiên Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh được áp dụng khắp cả tỉnh. Những ấu trỉ viên hàng tháng tổ chức lửa trại, diễn kịch, ca hát, nhảy múa... đã tập hợp được nhân dân hướng về cách mạng, ra sức tăng gia sản xuất phục vụ kiên quốc.

 Tháng 9 năm 1945 nhân dịp khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chủ Tịch đã gửi thư cho học sinh cả nước. Trong thư Người đã chỉ rõ sự khác biệt giữa nền giáo dục mới và giáo dục nô lệ của thực dân Pháp. "Ngày nay các cháu được cái may mắn hơn cha anh là được hưởng một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục sẽ đào tạo các cháu nên những người công dân có ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các cháu" (3)

 

 

 Thư của Chủ tịch Nước đến với thế hệ trẻ bằng những lời khuyên ân cần thiết tha, tin tưởng. Đồng thời giao phó trọng trách lớn lao cho thế hệ trẻ đối với tương lai đất nước: "Non sông Việt  Nam có trở nên vẻ vang hay không , dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu" (1)
 Thư của Hồ Chủ Tịch đã làm thức tỉnh hàng triệu trái tim yêu nước của thế hệ trẻ và giáo giới, thức tỉnh hàng triệu trái tim yêu nước của nhân dân ta, mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc, khẳng định niềm tin các thế hệ cha anh đối với nòi giống con cháu Lạc Hồng.

  Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh đã được sự chỉ đạo của Liên khu ủy khu Bốn (IV) hình thành Ty Bình dân học vụ do ông Lê Đình Hiên làm Trưởng ty.  Ngày khai trường đầu tiên ở Quảng Trị được tổ chức sôi nổi khắp các trường tiểu học, các lớp "ấu trỉ viên"  . Hình thức tổ chức trang trọng, chào cờ, hát Quốc ca, đọc thư Hồ Chủ Tịch. Sau lễ khai giảng là tổ chức rước đuốc, cổ động đi qua các đường làng ngõ xóm. Trong dòng người cổ động có đầy đủ người già, người trẻ, thanh niên, phụ nữ hát vang "Bài ca hùng binh", "Chiến sĩ Việt Nam"...  vang dậy mọi miền, thức tỉnh mọi tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia kháng chiến kiến quốc. 
Năm học đầu tiên ở Quảng Trị tập trung chỉ đạo theo quan điểm của Bộ là thực hiện nền giáo dục "Tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng để phụng sự đoàn thể"

-------------------------------------------------------------------------------------
(1) Hồ Chủ Tịch bàn về giáo dục, Sách đã dẫn trang 24

Hai ngành học Tiểu học vụ và Bình dân học vụ cùng tồn tại và phát triển song song. Cái khó khăn lớn nhất của năm học này là sách giáo khoa bằng Tiếng Việt. Những bộ môn thuộc khoa học xã hội được khắc phục bằng các bài báo "Nhân dân", báo "Tia sáng" (1) giáo viên tự biên tập về Lịch sử , Địa lý. Những bộ môn khoa học tự nhiên giáo viên phải dịch từ sách giáo khoa của Pháp. Ty Giáo dục cử 2 cán bộ ra Liên khu IV chép chương trình, giáo viên dựa vào chương trình mà biên soạn và dạy.  Trường tiểu học ở Quảng Trị lúc này không có nhiều, qui mô nhỏ và không hoàn chỉnh. Số lượng học sinh tiểu học chưa đến 1000 em (kể cả các lớp hương học ở các thôn bản) .
 Tại hội nghị cán bộ toàn tỉnh tháng 3 năm 1946 họp ở trụ sở tự vệ thị xã Quảng Trị,  đồng chí Trần Tống ủy viên Thường vụ xứ ủy Trung Bộ đã về dự và đánh giá như sau:
 "Những cuộc vận động thực hiện 3 nhiệm vụ trọng tâm là diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm" bước đầu đã đem lại cho Quảng Trị một sắc thái mới tốt đẹp. Qua các cuộc vận động lớn đó, Đảng bộ Quảng Trị đã huy động được lực lượng toàn dân tham gia xây dựng, củng cố chính quyền, tạo nên nền móng của chế độ mới, phát huy mạnh mẽ vai trò làm chủ của nhân dân, tổ chức được phong trào quần chúng rộng rãi với khí thế cách mạng sôi nổi chưa từng có" (2)

Năm học đầu tiên có sự kiện lịch sử trọng đại là Tổng tuyển cử của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Quảng Trị lúc đó có 28 vạn dân với gần 15 vạn cử tri đã hăng hái đi bầu cử. Mặt trận Việt Minh đã giới thiệu các ông Lê Thế Hiếu, Đặng Thí, Trần Mạnh Quỳ.
--------------------------------------------------------------------------------
(1) Tờ báo của Đảng bộ huyện Hải Lăng
(2) Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị, tập I NXB Chính trị quốc gia 1996 - trang 242
Những đại biểu đầu tiên của Quốc hội khóa I ở Quảng Trị có số phiếu cao.
  Sự kiện quan trọng này như luồng gió mới thổi vào không khí học tập sôi nổi của giáo viên và học sinh trong tỉnh.
 Ty Bình dân học vụ và Ty Tiểu học vụ Quảng Trị đã tiến hành một đợt truyên truyền giác ngộ lực lượng giáo giới về Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, thức tỉnh thế hệ trẻ về mục đích học tập về tương lai đất nước.
 Mặt dù tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến động ảnh hưởng trực tiếp tới phong trào cách mạng ở địa phương nhưng cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh vẫn được tiến hành. Ông Nguyễn Xuân Luyện được bầu làm Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh. Bộ máy Hội đồng nhân dân các cấp được kiện tòan. Địa giới các xã trong tỉnh được mở rộng, toàn tỉnh có 66 xã (1) chính quyền các cấp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Giáo dục phát triển. Năm học đầu tiên có 17 trường tiểu học và gần 40 lớp hương học (2), số lượng khoảng trên 2500 em. Hệ thống Bình dân học vụ được mở rộng trong các cơ quan, đoàn thể cấp tỉnh, cấp xã, thôn, trong nhân dân.
 Sở Bình dân học vụ Trung bộ tổ chức lớp tập huấn tại Huế mang tên Phan Thanh có đồng chí Nguyễn Duy Trinh phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Kháng chiến Trung bộ; đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Việt Minh đến dự; đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phó trưởng ban trong Hội đồng trị sự truyền bá chữ quốc ngữ nói chuyện. Quảng Trị có trên 10 người dự lớp này. Mặt khác tăng cường tổ chức các lớp bồi dưỡng
-----------------------------------------------------------------------------
(1) Hải Lăng 16 xã; Triệu Phong 14 xã; Cam Lộ 10 xã; Do Linh 7 xã; Vĩnh Linh 15 xã; Hướng Hóa 4 xã. Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị
(2) lớp học ở các thôn, xóm
 tại chỗ để tăng nhanh về số lượng cán bộ bình dân học vụ.
 Từ những lớp học bồi dưỡng do Nha Bình dân học vụ tổ chức đã đào tạo những hạt giống tốt cho phong trào bình dân học vụ của tỉnh Quảng Trị. Để phát động phong trào, Ty Bình dân học vụ đã tổ chức biên chế các trưởng ban bình dân học vụ ở  các địa phương. Ông Nguyễn Hữu Ích làm trưởng ban bình dân học vụ ở Triệu Phong; ông Phan Quang Diêu (Phan Quang) trưởng ban bình dân học vụ ở huyện Hải Lăng; ông Hoàng Đức Thạc làm trưởng ban bình dân học vụ ở Cam Lộ; ông Nguyễn Thiệu làm trưởng ban ban bình dân học vụ ở Vĩnh Linh... Lúc bấy giờ ở mỗi xã, mỗi thôn đều có trưởng ban ban bình dân học vụ.
 Công việc đầu tiên của các ban bình dân học vụ là tổ chức tuyên truyền. Thời kỳ đầu cách mạng không có sự tách bạch nhiệm vụ trong tuyên truyền. Người ta có thể tuyên truyền đường lối Việt Minh, chính sách của Chính phủ ngay trên lớp bình dân học vụ. Nội dung tuyên truyền tập trung vào chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Công tác tuyên truyền cho bình dân học vụ được đẩy mạnh thành cao trào, đi đâu, làm gì cũng xoay quanh việc học bình dân học vụ. Chuẩn mực biết chữ được đề cao:
  Lấy chồng biết chữ là tiên
    Lấy chống mù chữ là duyên nợ nần.

 Tháng 2/1946 Bộ Giáo dục quốc gia mở Hội nghị cán bộ giáo dục toàn quốc ở trường Ba Công Thụy Khê (Hà Nội) đoàn cán bộ Giáo dục Quảng Trị do ông Tôn Thất Dương Thanh, ông Nguyễn Linh (đại diện cho cơ sở) và ông Tôn Thất Văn ra dự. Tại hội nghị này Bộ Gíáo dục đánh giá cao thành quả đạt được của phong trào bình dân học vụ, phong trào giáo dục của Quảng Trị.

 Đoàn trở về tổ chức hội nghị ở trụ sở tự vệ thị xã Quảng Trị với hơn 50 người tiêu biểu cho phong trào. Không có phần thưởng chỉ có lời khen nhưng các cán bộ và giáo viên vô cùng phấn khởi và do đó phong trào được nuôi dưỡng, phát triển. Số liệu lưu trữ lúc đó là 753 lớp bình dân học vụ, 327 giáo viên và 13.595 học viên. Con số này cũng có nghĩa là  gần hết số người trong  tuổi cử tri ở Quảng Trị đã biết chữ. Phong trào bình dân học vụ ở Quảng Trị phát triển cho tới khi mặt trận vỡ. Trong thành công to lớn đó có sự đóng góp quan trọng của "cán bộ bình dân học vụ" . Khi mặt trận vỡ,  lúc đầu cán bộ bình dân học vụ được điều sang làm ở "Ban tăng di sản" (lo việc tăng gia sản xuất và tổ chức di tản dân ra khỏi vùng địch chiếm đóng), chuẩn bị lực lượng tổ chức bước vào kháng chiến, sau khi ổn định được nơi ăn chốn ở lại tiếp tục mở lớp bình dân học vụ. Mọi người bền bĩ, kiên quyết làm theo tinh thần của Hồ Chủ Tịch là "Ra sức chống giặc dốt cho dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc thông thái" (1)

 Từ 1947 đến 1952 Ty Bình dân học vụ của tỉnh bổ sung lực lượng, rút các cán bộ ở các huyện, điều một số giáo viên tâm huyết tự tổ chức biên soạn, in ấn sách học vần, sách học tính gửi về các lớp bình dân để giáo viên giảng dạy. Năm 1950 Ty Bình dân học vụ tập hợp các bài vở soạn được thành cuốn  sách "Dự bị bình dân" dùng cho người học. Cuốn sách được in bằng tipô do Nhà in báo chiến khu Thừa Thiên xuất bản.

----------------------------------------------------------------------------------------

(1)  Bác Hồ nói với cán bộ, nhân dân Hải Phòng sau khi đi thăm Pháp trở về (10/1946)
 Năm học 1946 - 1947 gặp muôn vàn khó khăn trở ngại, nhất là sau Tạm ước 14 tháng 9 năm 1946 Hồ Chủ Tịch ký với Chỉnh phủ Pháp nhằm cố gắng đẩy lùi chiến tranh. Thực dân Pháp bội ước, đế quôïc Mĩ liên kết với quân Tưởng ào ạt tấn công nhằm bóp chết chính quyền non trẻ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ Tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn dân: "Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" (1).
"Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước" . Người khẳng định: "Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta" (2).
 Đồng chí Nguyễn Chí Thanh ủy viên trung ương Đảng, Bí thư xứ ủy Trung Bộ. Đồng chí Hoàng Quốc Việt Bí thư liên khu Bốn đã trực tiếp chỉ đạo các hội nghị cán bộ tỉnh Quảng Trị, vạch ra sách lược cụ thể thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện trường kỳ kháng chiến thắng lợi. Ủy ban Kháng chiến tỉnh Quảng Trị gồm các đồng chí Đặng Thí, Nguyễn Xuân Luyện, Nguyễn Hữu Khiếu Hùng Việt, Trần Sâm, Trương Quang Phiên (phụ trách giáo dục) đã vạch định các chủ trương ngăn chặn quân Pháp đánh từ Lào qua đường 9 nhằm giải vây cho Thừa Thiên - Huế (lúc này Ủy ban Kháng chiến hành chính Trung Bộ của ta đang đóng ở Huế) .

--------------------------------------------------------------------------------------
(1) Hồ Chí Minh toàn tập NXB chính trị quốc gia Hà Nội 1995 . Trang 486
(2) Hồ Chí Minh toàn tập NXB chính trị quốc gia Hà Nội 1995 . Trang 486
 Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị cùng với cả nước nhất tề đứng lên kháng chiến. Cơ quan tỉnh ủy chuyên lên chiến khu Ba Lòng. Ủy ban quân sự địa phương tăng cường lực lượng cho sư đòan 95 (trước gọi là Thiện Thuật). Quân và dân ta trong đó có đông đảo học sinh và giáo viên ngày đêm đào hào, phá đường, đánh sập cầu, đắp chướng ngại vật trên đường cái ngăn chặn bước tiến của địch, thực hiện "vườn không nhà trống" , "tiêu thổ kháng chiến", thực hiện đưa dân tản cư lên rừng núi, những miền hiểm trở để bảo toàn lực lượng chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo, phát động được lòng yêu nước
của nhân dân, chúng ta đã làm hạn chế đáng kể kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp"
 Ngày 10 tháng 01 năm 1947 địch vượt sông Sê pôn từ Lào đánh Khe Sanh, đường 9. Ngày 21 tháng 01 năm 1947 chúng đánh xuống Cùa, Mai Lĩnh, Đầu Mầu; ngày 16/2 chúng đánh chiếm Đông Hà; ngày 19/2 đánh chiến thị xã Quảng Trị, Hải Lăng; ngày 27/3 đánh chiếm Do Linh; ngày 30/3 đánh chiếm Vĩnh Linh. Đến đâu chúng cũng đốt phá nhà cửa, trường học, bắn giết đồng bào ta trong đó có nhiều học sinh và giáo viên. Tội ác của giặc Pháp chồng chất như núi. Quan và dân ta đã anh dũng chống trả quyết liệt làm cho kẻ địch thiệt hại nặng nề, làm chậm bước hành quân của địch. Gần 1 vạn quân với xe cơ giới, máy bay, súng đạn hiện đại, chúng phải mất 3 tháng mới chiếm được một số điểm ở Quảng Trị là bước thất bại đầu tiên của thực dân Pháp. 

 Tháng 11 năm 1947, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ II khai mạc tại Khe Su Triệu Nguyên đã đánh giá cao kết quả đạt được trên 3 mặt trận chính trị, quân sự và cải thiện đời sống nhân dân. Về văn hóa giáo dục, nhân dân Quảng Trị vừa kháng chiến vừa chăm lo chú trọng xây dựng đời sống mới. Phong trào bình dân học vụ vẫn được  duy trì, kể cả các lớp sát nách địch (1). Tỉnh ủy cũng lưu ý việc thành lập Ty Tiểu học vụ Quảng Trị. Ông Trương Quang Phiên đã có công lớn trong việc tìm kiếm giáo viên có Bằng Thành chung (2) để đảm đương trách nhiệm xây dựng Ty Tiểu học vụ. Trung tuần tháng 11/1947 hai chiến sĩ tự vệ đưa đường thầy Trần Duy Mân một giáo chức đang dạy ở làng Điếu Ngao, Đông Hà lên chiến khu Ba Lòng nhận chức Trưởng ty Tiểu học vụ Quảng Trị theo quyết định của Ủy ban kháng chiến hành chính Quảng Trị. Bến đò Đá nổi  (Ba Lòng) lúc đó có 4 ngôi nhà tranh vách nứa do Ủy ban  kkáng chiến thuê dân địa phương dựng lên cho các Ty Tiểu học vụ, Ty Cứu tế xã hội, Ty Lâm nghiệp và Ty Thú y làm việc.  Văn phòng Ty ngày đầu tiên có 4 người, ngoài thầy Mân có thầy Nguyễn Hữu Nguyên được phân công làm Chánh văn phòng, thầy Trần Khả giữ chức Trưởng phòng chuyên môn và thầy Nguyễn Hữu Bành giữ chức Trưởng phòng nhân sự kế tóan. Lương Trưởng Ty được ghi rõ 40,5 kg gạo/tháng; lương Phó trưởng Ty được 39,5 kg gạo/tháng; lương giáo viên có Bằng Thành Chung là 38,5kg gạo/tháng, có bằng Tiểu học 36 kg güạo/tháng, không có bằng được 35 kg gạo/tháng. Mỗi tháng được nhận 13,5kg, số gạo còn lại ghi vào sổ lương chờ khi có điều kiện thanh toán. Mỗi giáo viên được cấp 2 xếp giấy (1 để soạn bài, 1 để làm sổ); Hiệu trưởng được cấp thêm 1 xếp để viết báo cáo, 2 hộp phấn và 5 ngòi bút lá tre. Hành trang ban đầu của một thầy giáo kháng chiến đơn giản nhưng với tấm lòng cách mạng yêu nước sâu sắc nhiều thầy giáo đã quên mình vì sự nghiệp giáo dục.

-----------------------------------------------------------------------------------
(1) Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị. Sách đã dẫn
(2) Trình độ ngang lớp 9 ngày nay

Vốn có học vấn và với tấm lòng yêu nước nồng nàn, giáo viên đã hăng hái đi về các vùng khó khăn trong thế trận cài răng lược, bên địch - bên ta, tổ chức lớp học, xây dựng trường sở. Vì vậy ở vùng chiến khu, vùng tự do, vùng giáp ranh, các lớp học được tổ chức trở lại. Sau Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ II (11/1947) phong trào bình dân học vụ ở Quảng Trị được khôi phục nhanh chóng và phát triển mạnh mẽ. Các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở đã tập trung sức cho công tác bình dân học vụ, xem đó là một mặt trận quan trọng. Khẩu hiệu thi đua "Tiền tuyến diệt xâm lăng - Hậu phương diệt giặc dốt" "Đi học bình dân học vụ là yêu nước, dạy bình dân học vụ là yêu nước, diệt giặc dốt là yêu nước, chống nạn thất học cũng là chống giặc ngoại xâm..." Khẩu hiệu về bình dân học vụ, chữ cái, vần, dấu thanh được viết mọi nơi, mọi chỗ, có thể nói tỉnh Quảng Trị là "tỉnh chữ, huyện chữ, làng chữ và nhà chữ" , ngủ dậy mở mắt ra là thấy chữ. Mặt trận Việt Minh là người chỉ đạo trực tiếp, cùng với các Hội Phụ nữ, Thanh niên ra sức tổ chức bình dân học vụ theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ty Tuyên truyền của tỉnh đã có nhiều hoạt động cho bình dân học vụ. Từ đầu năm 1948 khi lực lượng của địch tỏ ra không đủ sức kiểm sóat được địa bàn rộng lớn của ta quân du kích và bộ đội địa phương chặn đánh giặc đi càn quét làm cho chúng hao binh tổn tướng thì bình dân học vụ có cơ hội và điều kiện phát triển.
 Ngay từ khi địch đang đánh chiếm Đông Hà, Do Linh,Vĩnh Linh, huyện ủy Hướng Hóa đã chỉ đạo: Khi địch đang đánh chiếm đồng bằng, tranh thủ đẩy mạnh các hoạt động, chú trọng phát triển bình dân học vụ cho người Vân Kiều, Pa Kô...(1). Quyết liệt và quả cảm là tinh thần của người làm công tác giáo dục, bình dân học vụ. Trường lớp bình dân học vụ không những không bị tan rã mà còn tiếp tục được mở khắp nơi.
----------------------------------------------------------------------------------------
(1) Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị - Sách đã dẫn. Trang 218
Linh hoạt trong cách tổ chức và sáng tạo trong việc dạy chữ là cách làm có hiệu quả của các tổ chức giáo dục lúc bấy giờ. Ngành Giáo dục Quảng Trị đã huy động một lực lượng đông đảo cho việc mở lớp bình dân học vụ. Năm học 1947 - 1948, Quảng Trị có trên 2000 lớp học . Lớp học ở các đình chùa, miếu mạo, thường có mươi mười lăm người học. Lớp theo tổ trực chiến, theo chòi gác địch đi càn, lớp học liên gia hoặc mỗi gia đình là một lớp học. Xã Phong Hanh huyện Triệu Phong là một xã đồng bào Thiên chúa giáo, trong xã có 5 vị trí chốt giữ của địch nhưng vẫn có 62 lớp với 487 người học (1)

 Người dạy bình dân học vụ là những người lao động có vốn hiểu biết nhất định, nhiều khi chỉ cách một lớp nhưng vô cùng tâm huyết và tận tụy. Chủ tịch Hồ Chí Minh phong tặng cho các nhà giáo danh hiệu "Anh hùng vô danh". Khi địch đi càn, người dạy bình dân học vụ là chiến sĩ quả cảm giết giặc, khi địch rút, người chiến sĩ là người thầy. Các lớp bình dân học vụ được lồng ghép rất linh hoạt, vừa dạy chữ, vừa tuyên truyền kháng chiến và cũng là nơi sinh họat văn hóa văn nghệ thực hiện đời sống mới "ăn đũa hai đầu" vệ sinh thường thức. Cán bộ bình dân học vụ nhiệt tình, chịu thương chịu khó nhất. Ở huyện Hải Lăng có một chị giáo viên bình dân học vụ cha bị giặc Pháp bắn chết, chôn cất cha xong là đến thẳng lớp bình dân học vụ vì biết rằng ở đó mọi người đang chờ chị (2).  Giáo viên Nguyễn Quang Trung ở  xã Vĩnh Thái, hai chân bị liệt đi bằng tay vẫn kiên trì đến lớp, một mình xóa nạn mù chữ cho hàng trăm người và đã được đi dự Hội nghị thi đua toàn quốc, được nhận Huy hiệu Chiến sĩ diệt dốt. Lớp học bình dân học vụ đã trở thành tổ ấm an ủi, chia xẻ về tình làng nghĩa xóm.
(1) Việt Nam chống nạn thất học. NXB Giáo dục.  Trang 90
(2)        nt     Trang 68
Trong điều kiện thiếu thốn sách vần quốc ngữ, giáo viên bình dân học vụ phải chép tay, in đất, in thạch, in đá. Năm 1947 Bộ Giáo dục in 2,5 triệu bản sách học vần nhưng trong điều kiện chiến tranh ác liệt đoàn quân chi viện Khu ủy khu Bốn chỉ mang  vào được cho Quảng Trị  400 bản, vì vậy việc nhân bản bằng chép tay là chủ yếu. 
Biết Ty Bình dân học vụ Quảng Trị quá thiếu thốn về đá in, Ty Bình dân học vụ Nghệ An tặng 10 viên đá. Để đến được chiến khu Ba Lòng - nơi Ty Bình dân học vụ Quảng Trị đóng trụ sở. Ty Nghệ  An phải cử 5 người gánh, vượt qua Trường sơn hiểm trở, đi suốt cả tháng ròng mới đến được. (1). Nghĩa tình kháng chiến đó ngành Giáo dục Quảng Trị mãi mãi tạc dạ ghi ân.
 Kết thúc năm học 1948 - 1949 Quảng Trị đã tổ chức đượüc trên 2000 lớp học, huy động gần 2 vạn người. Trong công tác bình dân học vụ phải kể đến một lực lượng quan trọng nữa là bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực, họ vừa là đối tượng của bình dân học vụ vừa là cán bộ bình dân học vụ năng nỗ nhất. Vùng núi Hướng Hóa, vùng núi Do Linh, Vĩnh Linh nhờ lực lượng này mà cơ bản đã thực hiện có hiệu quả công tác diệt giặc dốt.
 Ty Bình dân học vụ đã triển khai chương trình tập huấn cho cán bộ bình dân học vụ. Lúc này thầy Lê Duy Hoàn là Trưởng trại bồi dưỡng giáo viên bình dân học vụ Quảng Trị đã tiến hành lớp bồi dưỡng ở Khe Su cho gần 70 giáo viên bình dân học vụ; mở lớp bổ túc văn hóa tập trung, lồng ghép bồi dưỡng lý luận cách mạng cho các đồng chí cán bộ chủ chốt của Đảng như đồng chí Lê Hành, Bí thư huyện ủy huyện Hướng Hóa; Lê Văn Tài, xã đội trưởng Cam Giang; Lê Thị Miên,  Bí thư phụ nữ; Hoàng Giáo, Chủ tịch liên việt huyện; Trần Thị Thí, tỉnh ủy viên...
----------------------------------------------------------------------------------
(1) Việt Nam chống nạn thất học - NXB Giáo dục . Trang 69
Chương trình bình dân học vụ khá đa dạng và năng động. Học viên vừa học chữ vừa được nghe chính sách của Đảng và Nhà nước về kháng chiến kiến quốc. Bình dân học vụ mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình giải quyết mặt dân trí giác ngộ cách mạng, hăng hái thi đua diệt giặc cứu nước.
 Tháng 4/1949 đoàn văn công Khu Bốn vào phục vụ đồng bào Quảng Trị. Các nghệ sĩ Châu Loan, Văn Ký, Trần Hòan...  đã có dịp biểu diễn những bài hát cách mạng cho lớp bồi dưỡng cán bộ bình dân học vụ và lớp lý luận chính trị của tỉnh ủy. Núi rừng chiến khu Ba Lòng, Mai Đàn, Mai Lộc,  Bảng Sơn... tưng bừng khí thế cách mạng, thúc dục mọi người đi học bình dân học vụ. Từ chiến khu các cán bộ bình dân học vụ hạ quyết tâm đẩy mạnh phong trào bình dân học vụ ở vùng biển Quảng Trị. Thầy giáo Nguyễn Hữu Xuân (người Hoàng Trung, Hoàng Hóa, Thanh Hóa) chi viện cho bình dân học vụ Quảng Trị có làn bài thơ dài về chiến dịch này, trong đó có đoạn :
 Đẩy phong trào theo đoàn chi viện
 Quyết sao cho vùng biển tiến lên
 Phát động Mỹ Thủy một đêm
 Bình dân mở lớp, đuốc đèn giăng ngang
 Chiến dịch bình dân học vụ cho vùng biển được tổ chức qui mô, không quản hiểm nguy nơi đồn bốt của địch. Đoàn quân bình dân học vụ như những ngọn lửa thắp sáng từ Hải Bình, Hải Trình, Hải Châu (Hải Lăng) chạy ra Phong Trạch, Phong Thạnh (Triệu Phong) sang Do Việt, Do Hải, Trung Giang (Do Linh), đến Vĩnh Tùng, Vĩnh Hoàng (Vĩnh Linh).
 Sau thất bại ở chiến trường Việt Bắc thu đông năm 1947 giặc Pháp mở rộng càn quét, chiến trường Bình - Trị - Thiên trở thành chiến trường ác liệt. Địch đánh chiến khu Hòa Linh nơi Bộ chỉ huy phân khu của ta, đánh vào Thủy Ba Thượng (Vĩnh Linh), Cẩm Phổ (Do Linh), Cùa (Cam Lộ), Khe Mương (Hải Lăng), khu căn cứ của huyện ủy Hải Lăng và đánh chiếm chợ Cạn (Triệu Phong). Những cuộc càn quét vây ráp của địch đã gây cho đồng bào ta những tổn thương nặng nề. Điển hình là trong 3 ngày của tháng 3 năm 1949 chúng đã giết hại hơn 1300 người dân vùng Triệu Hải. Chiến tranh tàn khốc, đói kém, bệnh tật là những cản trở lớn cho việc học tập của bình dân học vụ.
 Từ tháng 3 năm 1949, sau Đại hội đại biểu Đảng bộ Quảng Trị lần thứ 3 phong trào bình dân học vụ phát triển trở lại. Ông Lê Đình Hiên trưởng Ty Bình dân học vụ tỉnh được điều động ra Bộ Giáo dục, ông Nguyễn Linh giữ chức  Trưởng ty Bình dân học vụ, tiến hành tổ chức tập huấn củng cố lực lượng cán bộ bình dân học vụ thực hiện những cải cách của hệ thống giáo dục bình dân học vụ với những qui định theo quỹ thời gian:
 - Sơ cấp bình dân: thời gian 4 tháng cho người chưa biết chữ
 - Dự bị bình dân: thời gian 4 tháng dạy đến trình độ lớp ba cũ
 - Bổ túc bình dân: thời gian 8 tháng dạy đến trình độ lớp 5.
 - Trung cấp bình dân: thời gian 8 tháng dạy đến trình độ lớp 8 phổ thông.
 Bình dân học vụ đi vào ổn định và có điều kiện nâng cao chất lượng theo chuẩn mực của Nha Bình dân học vụ.
Năm 1951, giáo dục phát triển mạnh, đội ngũ cán bộ, thầy giáo các cấp thiếu trầm trọng. Năng lực sư phạm mà trước hết lý luận về một nền giáo dục cách mạng của cán bộ còn non nớt, nên cần phải gấp rút được đào tạo theo một hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trung ương Đảng, Chính phủ thành lập khu học xá trung ương đặt ở Nam Ninh, Quế Lâm của nước Cộng hòa nhân dân trung Hoa. Quảng Trị đã có nhiều thầy giáo được đào tạo và trưởng thành từ mái trường cách mạng này.
 Tại đây, nhiều tài liệu giáo dục của Liên Xô, Trung Quốc được dịch ra Tiếng Việt; nhiều tài liệu lý luận Mác - Lênin được xây dựng thành hệ thống quan điểm giáo dục xã hội chủ nghĩa được trang bị có cơ sở. Đây chính là sự đảm bảo hướng đi cho giáo dục tương lai.
 Tháng 7 năm 1951, Bộ Gíao dục tổ chức Đại hội giáo dục toàn quốc ở Việt Bắc. Tại hội nghị này, Công đoàn giáo dục Việt Nam chính thức được thành lập. Công đoàn giáo dục Việt Nam là thành viên của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, thống nhất lực lượng giáo giới hoạt động vì mục đích là xóa bỏ giáo dục nô lệ, xây dựng nền giáo dục dân tộc, dân chủ, làm cho giáo giới có điều kiện phát triển năng lực, trí tuệ phụng sự cách mạng. Ông Nguyễn Dương Khư là Chủ tịch Công đoàn giáo dục của Quảng Trị đã kịp thời tổ chức cho đoàn viên tích cực tham gia vào cuộc vận động "rèn cán chỉnh cơ", tham gia thực hiện giảm tô, giảm tức. Công đoàn là tổ ấm bồi dưỡng cho đoàn viên về tư tưởng cũng như tình cảm cách mạng. Công đoàn đã xây dựng được nhiều tập thể tiên tiến, nhiều cá nhân trở thành chiến sĩ thi đua đầu tiên của Ngành. Thầy giáo Lý Văn Biên (ở Hải Lăng) là chiến sĩ thi đua đầu tiên của Ngành có vinh dự đi dự Đại hội liên hoan Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lấn thứ nhất (tháng 7 năm 1951).
 Hệ thống trường tiểu học Quảng Trị trước 1952 bao gồm tất cả các lớp học thôn xóm như lớp của Giáo Nghê (Vĩnh Thái), Giáo Đáp (Liêm Công), Trợ Dung (Vĩnh Thủy), Giáo Phán, Giáo Ích (Do Linh), Giáo Tư, Trợ Túc, Trợ Thiên, Trợ Đính, Giáo Đỉnh (Triệu Phong)... Những lớp này được gọi là "Hương học" hay là trường tư. Học sinh là con em lao động khá giả tự đóng góp tiền nuôi thầy. Lớp học có thể đặt ở nhà thầy cũng có thể ở một gia đình rộng rãi. Bàn ghế hết sức thô sơ, nhiều em đi học mang theo thúng để đặt úp kê viết. Chương trình là của thầy, chủ yếu là dạy vần, tập viết, học thuộc lòng, làm 4 phép tính số học.
 Hệ thống trường lớp đầu tiên phần đông không hoàn chỉnh cấp. Có trường 3 thầy, trường đông là 5 - 7 thầy. Các trường ở Vĩnh Hòang, Vĩnh Liêm, Vĩnh Hồ (Vĩnh Linh); Triệu Cơ, Hữu Vân, Linh Yên, Dương Lộc (Triệu Phong); Cam Lộc, Cam Mĩ, Cam Thủy, Cam Thanh (Cam Lộ); Hải Trung, Hải Phong, Long Hưng, Diên Sanh, Mỹ Chánh (Hải Lăng)..., những trường này có Hiệu trưởng, có Đốc học kiểm sóat, sau này gọi là kiểm soát viên tiểu học vụ. Hệ thống thứ ba là trường vùng địch tạm chiếm và vùng địch chiếm - Ba hệ thống này khá độc lập trong hoạt động, tuy nhiên có sự bổ sung rất quan trọng khi chiến sự thay đổi. Vùng giải phóng phát triển, vùng địch chiếm thu hẹp con em có trình độ từ các loại hình đó bổ sung cho nhau, tạo ra mặt bằng học vấn trong thế hệ trẻ của Quảng Trị.
 Trong điều kiện kháng chiến gay go và ác liệt, giáo dục Quảng Trị vẫn giữ  vững và tiếp tục phát triển hệ thống trường Tiểu học, phát triển trường cấp II: Hệ thống trường tiểu học của Quảng Trị từ năm học 1948-1949 phát triển mạnh. Tính cả 5 trường vùng địch chiếm, Quảng Trị có 23 trường (5 trường toàn cấp), nằm chung trong khu giáo dục khu Bốn, số lượng học sinh tăng 7 lần so với ngày đầu cách mạng. Điểm nổi bật là dù ở xa Trung ương nhưng những chuyển đổi về nền giáo dục cách mạng vẫn được thực thi thông suốt. Năm học 1948-1949 có trên 120 học sinh toàn tỉnh thi tốt nghiệp Tiểu học, đạt tỷ lệ tốt nghiệp 72%. Môn Giáo dục chính trị đạo đức được đưa vào nhà trường.  Học sinh Tiểu học được đưa vào  hoạt động đoàn thể nhi đồng cứu quốc. Trường học phát động "Kế hoạch nhỏ", công tác Trần  Quốc Toản, vệ sinh đường làng, ngõ xóm, đốt đuốc cổ động được các em nhỏ hưởng ứng sôi nổi. Điển hình có em học sinh Trần Đức Đá học trường Tiểu học Vạn Côn Vĩnh Hồ (Vĩnh Linh) học giỏi, chăm làm, được Mặt trận Việt Minh tín nhiệm giao nhiệm vụ làm liên lạc cho bộ đội địa phương, lập được nhiều thành tích xuất sắc, được Chính phủ tặng Huân chương Chiến công hạng Ba tại Đại hội chiến sĩ thi đua Dân quân Du kích Quân khu Bốn tổ chức ở Thanh Chương (Nghệ An) năm 1952. Gương sáng này đã được viết thành bài thơ in ở cuốn sách giáo khoa lớp 2 năm 1952 trong đó có đoạn:
  Em Trần Đức Đá
  Tuổi còn nhỏ
  Mồ côi cả mẹ , cha
  Một mình em tăng gia
  Nuôi bà và em nhỏ
  Học cả trên lưng trâu
  Ở lớp em đứng đầu
  Được nêu gương toàn xã
 Một sự kiện nổi bật ở thời kỳ này là Cải cách giáo dục lần thứ nhất (1950) với hệ thống giáo dục 9 năm với một chương trình giảng dạy mới. Tính chất  nền giáo dục mới là của dân, do dân và vì dân được xây dựng trên nguyên tắc dân tộc, khoa học và đại chúng. Mục tiêu đào tạo của nhà trường là giáo dục, "bồi dưỡng thế hệ trẻ thành người công dân lao động tương lai trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, có đủ phẩm chất và năng lực phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân" (1)
 Đây là tuyên ngôn về một nền giáo dục mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - là kết tinh những quan điểm của Đảng cộng sản và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi cho giáo dục nhân ngày khai trường đầu tiên. Phương châm giáo dục là học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn. Từ đây hệ thống giáo dục 9 năm được chia thành 3 cấp:
(1) 35 năm phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông. NXBGD 1980 - trang 45
- Cấp I:  4 năm thay thế bậc học cũ (không kể năm vỡ lòng)
 - Cấp II: 3 năm thay thế cho bậc học phổ thông cũ 4 năm
 - Cấp III: 2 năm thay thế cho bậc học chuyên khoa cũ.
 Thêm bậc dự bị Đại học 2 năm
 Song song với hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm là hệ thống giáo dục bình dân học vụ và hệ thống giáo dục chuyên nghiệp khởi đầu cho nền giáo dục mới cách mạng.
 Nội dung cải cách giáo dục lần I thực hiện từ Liên khu Bốn trở ra. Tỉnh ta là tỉnh cuối cùng lại có hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nhưng sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II ngày 11/2/1952 tại xã Vinh Quang, Tuyên Quang,   Đảng ta quyết định ra công khai hoạt động, đổi tên Đảng cộng sản Đông Dương thành Đảng lao động Việt Nam "Phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội" (1). Đây là cơ hội cho giáo dục cả nước và  Giáo dục Quảng Trị có nhiều thuận lợi nhất để phát triển. Năm 1952 là năm triển khai hệ thống giáo dục mới ở Quảng Trị, các lớp học trước khi vào lớp 1 đều được gọi là lớp vỡ lòng. Ty Tiểu học vụ đã cử người ra Liên khu Bốn nhận chương trình và dự lớp tập huấn, bồi dưỡng đào tạo cán bộ, giáo viên dạy vỡ lòng. Bồi dưỡng giáo viên dạy vỡ lòng có quỹ thời gian ngắn, cho nên chỉ trong vòng 6 tháng đội ngũ giáo viên vỡ lòng được hình thành tới tận làng xã. Các lớp vỡ lòng được mở rộng. Đội ngũ giáo viên vỡ lòng nhiệt tình, tận tụy và giỏi nghề nghiệp nhưng cũng rất nghiêm khắc với học trò trong việc rèn chữ viết, thế hệ học sinh mà sau này nhiều người trở thành thầy giáo có kiểu chữ viết rất đẹp. Hệ thống lớp vỡ lòng là bước quá độ để đi đến sự cần thiết xây dựng ngành học mẫu giáo, là cách tốt nhất có tính bổ sung chất lượng cho cấp I.
----------------------------------------------------------------------------------------
(1) Chính cương Đảng LĐVN. Văn kiện toàn quốc Đại hội Đảng lần II. NXB Hà Nội, Trang 135

 Đầu tháng 12 năm 1949 đoàn cán bộ chi viện của Liên khu ủy Khu Bốn do đồng chí Võ Thuần Nho lúc đó là Chánh văn phòng Khu ủy Liên khu Bốn dẫn 34 giáo viên cấp I, cấp II (phần lớn là người Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An và Thanh Hóa) vào bổ sung cho giáo dục Quảng Trị.
 Đòan giáo viên chi viện cho giáo dục Quảng Trị được chia nhỏ theo nhóm có dân quân tự vệ ở 3 tĩnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị dẫn đường. Từ Đức Thọ đoàn đi ngược hướng Tân Ấp qua đường Goòng vượt đèo Ngang. Tại đây lực lượng dân quân Quảng Bình ra đón về Minh Cầm. Đoàn đi qua Vạn Tượng , Vĩnh Khê băng rừng vượt Thủy Ba , nơi cọp dữ để đến bắc Đường 9 lên chiến khu Ba Lòng. Trên vai mỗi thành viên là hai thùng sách giáo khoa, ruột tượng gạo và muối, thuốc sốt rét. Trước khi lên đường ai cũng thủ sắn 2 cuốn sách "Kháng chiến nhất định thắng lợi", "Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam" của đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng lúc bấy giờ. Đây là tài liệu được bồi dưỡng quan trọng nhất trước khi bước vào vùng Bình Trị Thiên khói lửa. Hai cuốn sách in litô, giấy đen khổ nhỏ được giáo viên cất giữ như là một kỷ vật quý hiếm.
  Hai cơ quan Ty Bình dân học vụ và Ty Tiểu học vụ vẫn tồn tại song song ở hai địa điểm khác nhau . Ty Bình dân học vụ đóng ở Ba Lòng; Ty Tiểu học vụ đóng ở Đá Nổi. Trước và sau cuộc "Rèn cán - Chỉnh cơ" năm 1952 liên Khu ủy Khu Bốn tiếp tục cử thêm hai đoàn giáo viên cấp I và cấp II chi viện cho giáo dục Quảng Trị. Cuối tháng 12 năm 1952 theo đề nghị của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh và được Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên chấp nhận Ty Bình dân học vụ và Ty Tiểu học vụ được sáp nhập gọi là Ty Giáo dục Quảng Trị . Cơ quan Văn phòng Ty lúc đó là: Lãnh đạo Ty gồm các ông Trần Duy Mân giữ chức vụ Trưởng Ty; Phó trưởng Ty gồm các ông Nguyễn Dương Khư,  Nguyễn Linh. Ty Giáo dục  Quảng Trị có 4 phòng chức năng là:
- Thanh tra giáo dục gồm có các thầy Nguyễn Ấm (người Hà Tĩnh), thầy Nguyễn Hữu Sắt (Triệu phong), thầy Nguyễn Văn Thanh (Cam Lộ) và thầy Trịnh Mạnh (người Thanh Hóa).
- Phòng chuyên môn gồm các thầy Nguyễn Văn Tu (Trưởng phòng), thầy Hoàng Đức Thạc (Quảng Trị), Nguyễn Văn Bật, thầy Lê Hữu Bài (người Thanh Hóa), thầy Lê Hân (Quảng Trị), thầy Nguyễn Văn Hiệu (Hà Tĩnh) và thầy Nguyễn Hữu Uẩn (Thanh Hóa).
- Phòng Bình dân học vụ gồm các thầy Lê Công Tánh , thầy Lê Niệm và Hồ Văn Lộc (Triệu Phong).
- Phòng Hành chính quản trị do ông Nguyễn Hữu Bành làm trưởng phòng
 Củng cố, kiện toàn bộ máy Ty Giáo dục Quảng Trị bước khởi đầu quyết định thực thi các chủ trương của Đảng và Nhà nước, của Bộ Giáo dục Việt Nam trong công cuộc kháng chiến kiến quốc của thời kỳ tiếp theo.

Thông tin khác
Tin xem nhiều nhất
VĂN BẢN PHÁP QUY
THÔNG TIN THÔNG BÁO
Tin mới nhất
TÀI NGUYÊN
Một số mẫu giáo án đẹp
Bộ phần mềm tạo trò chơi ô chữ
Bộ phần mềm dạy hoc Mầm non
Hướng dẫn sử dụng Phần mềm MCMix
Phần mềm MCMic
Phần mềm Ghi đĩa CD
Phần mềm chuyển đổi từ Word sang PdF và ngược lại
Phần mềm chuyển đổi Font chữ
Xếp loại ABC tiếng Việt
Phần mềm hội thoại qua mạng Skype
LIÊN KẾT NHANH

Bản quyền thuộc Trường THPT Gio Linh, Quảng Trị
Địa chỉ: TT Gio Linh, Huyện Gio Linh, Quảng Trị
Thiết kế- xây dựng: TTCNTT&NN-Sở, Tel: 0533555393-0905609111